Tài liệu thuyết minh: tour Tp. HCM – Phan Thiết (phần 3)

bien phan thietKhu Lăng Mộ Nguyễn Thông

Toạ lạc trên đồi Ngọc Lâm, ở sát chân núi Ngọc Sơn, đây là ngọn núi đẹp nhất trong số 5 ngọn núi trong khu vực. Cảnh vật nơi đây vừa yên tĩnh nhưng cũng hết sức sôi động nên thơ, rất lí tưởng cho mọi tâm hồn thi sĩ và khách lãng du. Một bức tranh thiên nhiên kỳ thú bởi nó hội tụ đầy đủ các yếu tố của tự nhiên từ trời mây, đất nước, núi rừng và biển cả.

Từ khi còn làm Bố Chánh Bình Thuận vào năm 1877, Nguyễn Thông thường công du đến núi Ngọc Sơn và ông rất say mê cảnh non nước, trời biển, trăng sao…ở chốn này. Vì thế ông quyết định chọn nơi đây làm chốn yên nghỉ ngàn thu của mình sau khi từ giã cõi đời. Đọc lại một đoạn ký khắc ở bia mộ Nguyễn Thông do chính ông thốt lên chúng ta mới thấu hiểu hết vẻ đẹp tiềm ẩn của cảnh vật nơi đây: “Sau khi ta trăm tuổi rồi, hồn phách còn nhớ đến núi này chăng? Hoặc cũng về chốn không còn gì chăng? Điều đó không thể biết được. Còn như hoa rừng, trăng biển, buồm ngư phủ, chòi tiều phu, vẻ lạ của khói mây thay đổi, hình thù của thuồng luồng chập chờn, sau này cảnh ấy có thể giúp vào cuộc thưởng thức của tạo nhân du khách vậy”. Đã hơn một thế kỷ trôi qua, cảnh đẹp nơi đây vẫn còn nguyên giá trị và những điều ước ao, trăn trở của Nguyễn Thông đã trở thành hiện thực vì hàng năm có đến hàng vạn lượt khách lãng du đến đây viếng mộ ông, ngoạn cảnh và thưởng thức cảnh khói mây, hoa rừng, trăng biển…

Khu lăng mộ Nguyễn Thông là một thắng tích quan trọng trong tuyến du lịch dọc bờ biển Đông Bắc thị xã Phan Thiết từ trung tâm thị xã dọc bờ biển đến Mũi Né dài 22km, du khách sẽ say mê và liên tục ngỡ ngàng trước những tiên cảnh sống động của tạo hoá sinh ra được bàn tay và trí tuệ con người vun vén hoàn hảo thêm. Trước mắt và hai bên đường là cảnh sông suối, biển cả và núi đồi như quyện chặt vào nhau tạo nên một bức tranh sơn thuỷ thạch ấm áp hương quê vùng duyên hải. Qua một đoạn hành trình khoảng 6km là đến đồi Ngọc Lâm, Lầu Ông Hoàng hiện ra sừng sững khiến ta bồi hồi liên tưởng lại đường lên dốc đá trong câu chuyện tình của thi nhân Hàn Mặc Tử với nàng Mộng Cầm xinh đẹp thuở trước. Qua khỏi dốc đá Lầu Ông Hoàng là một quần thể di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh nổi tiếng liên hoàn nối tiếp từ cổ đến kim. Cổ nhất là nhóm đền tháp Chăm Poshanư của vương quốc Champa một thời vang bóng, đến Bửu Sơn Tự – ngôi chùa cổ gắn với sự tích Nguyễn Ánh từng đến đây trú ẩn bị quân Tây Sơn vây hãm. Tiếp đến là Lầu Ông Hoàng, nhà hàng Ngọc Lâm, tháp nước do người Pháp xây dựng hồi đầu thế kỷ XX, rồi hệ thống lôcốt, đồn bót của Mỹ – Ngụy là chứng tích lịch sử hùng hồn của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Qua khỏi khu vực Lầu Ông Hoàng 1km là đến thắng cảnh núi Cố – nơi có khu lăng mộ Nguyễn Thông. Tiếp tục cuộc hành trình dọc bờ biển là một khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp với những dãy đồi núi nhấp nhô gợn sóng trải dài nối tiếp đến những địa danh quen thuộc như: bãi đá Ông Địa, Suối Tiên và những rừng dừa xanh ngát hai bên đường như che bóng đưa du khách đến bãi biển Mũi Né. Biết bao địa danh du lịch nổi tiếng, hấp dẫn mà ai đã từng đến đây dù chỉ một lần hẳn khi xa rồi sẽ không tránh khỏi sự luyến tiếc, nhớ nhung.

Đến viếng mộ Nguyễn Thông, chúng ta có dịp hồi tưởng về một danh nhân nổi tiếng đã từng có nhiều đóng góp lớn lao cho xã hội nửa cuối thế kỷ XIX. Đã hơn 100 năm Nguyễn Thông yên nghỉ ở chốn này, nhưng chắc chắn ông không hề đơn độc vì mỗi năm có đến hàng vạn lượt du khách về đây thăm viếng và kính cẩn nghiêng mình với một tình cảm nhớ thương và kính trọng. Đó là biểu hiện của sự đền ơn đáp nghĩa, một đạo lý cao đẹp của người Việt Nam.

Cụ Nguyễn Thông.

Danh sĩ đại thần Tự Hi Phần, hiệu Kỳ Xuyên, biệt hiệu Độn Am. Thuở nhỏ có tên là Thiệu, con ông Nguyễn Hành và bà Trịnh Thị Mầu.

Quê ông ở tỉnh Gia Định nay thuộc tỉnh Long An.

Năm 1849, ông đỗ cử nhân đồng khoa với Phan Văn Trị. Năm 1851, đi thi lại trượt. Vì nhà nghèo ông phải nhậm chức huấn đạo tại An Giang.

Năm 1856, nội cát đề cử ông thăng hàn lâm viện tu soạn về kinh làm việc ở nội các. Tại đây ông tham gia biên soạn bộ khâm định nhân sự Kiên Giang (1857).

Năm 1859, giặc Pháp chiếm Gia Định, ông về Nam tòng quân đánh giặc dưới sự chỉ huy của thống đốc quân vụ Tôn Thất Hiệp.

Năm 1861, ông lui về Tân An liên lạc với Phan Văn Đạt, Trịnh Quan Nghi tham gia chống Pháp ở địa phương. Năm 1862, sau khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền đông nam bộ, ông ra ở Bình Thuận, rồi nhậm chức đốc học Vĩnh Long. Thời gian này ông tích cực lo việc giúp nhân dân đồng bằng sông Cửu Long trong việc giáo dục. Năm 1866, khi xây xong Văn Miếu, ông viết bài kí tại Vân Xương Các. Năm sau, ông cùng Phan Thanh Giản cải táng Xứ sỉ Võ Trường Toản về Ba Tri vì cho rằng đất Hoà Hưng đã là đất của Pháp.

Sau đó, ông ra Ty địa ở Bình Thuận lần thứ hai rồi lãnh chức Án sát Khánh Hoà. Năm sau 1868, lại được điều về kinh giữ chức biện lý bộ hình. Đến cuối năm được cử làm bố chính tỉnh Quãng Ngãi.

Năm 1871, ông bị triều đình kết tội xử án sơ suất, lại thêm bị Lê Doãn vu cáo nên bị cách chức, bắt giam và xử trượng. Nhờ thượng thư bộ công là Nguyễn Bính và bạn bè, nhất là nhân dân Quảng Ngãi hết sức minh oan, ông mới được giảm tội và lưu dụng làm việc ở sở kiểm biên lầu Tàng Thư Huế.

Năm 1873, ông cáo quan về nghỉ ở tại núi Cố tỉnh Bình Thuận lập thị xã, mở trường học.

Năm 1876, ông được thăng làm Hàn Lâm Viện trứ tác, lãnh chức tư nghiệp Quốc Tử Giám. Tại đây ông cùng Bùi Ước, Hoàng Dụng Tân kiểm lại bộ Khâm định việt sử thông giám cương mục. Năm sau được thực thụ chức tư nghiệp, rồi đổi làm trị giảng học sĩ ở Viện Hàn Lâm. Sung chức doanh điền xứ ở Bình Thuận. Cuối năm này, lãnh chức bố chính tỉnh Bình Thuận.

Bấy giờ ông bệnh nhiều, bệnh thường tái phát, nhiều lúc thổ huyết, nhưng ông vẫn tận tụy phục vụ dân nước. Năm 1878, ông xin nghỉ dài hạn ở trại nuôi cố. Tuy đã nghỉ việc công, nhưng trong thời gian này ông vẫn cùng với các quan địa phương giải quyết một số vấn đề tranh chấp giữa người kinh và người thượng ở Bình Thuận, đồng thời sắp đặt cho đồng bào trong Nam ra Ty địa ở Phan Thiết, lập Đồng Châu xã. Tại đây, ông lập một nhà học có tên Ngoạ Du Sào.

Năm 1881, ông được triều đình sung chức Điền nông phó sứ, kiêm lãnh chức đốc học Bình Thuận. Đến năm 1884 ông mất hưởng dương 57 tuổi.
Các tác phẩm của ông: khám định nhân sự kim giám, dưỡng chính lục, việc sử thông giám cương mục khảo lược, kì xuyên công đặc, độn am thi tập, độn am văn tập….

========================================

Lầu Ông Hoàng

Lầu Ông Hoàng bao gồm một quần thể sông, núi, biển chùa tháp tạo thành khu danh lam thắng cảnh nổi lên với ngọn núi Cố tương đối cao và bốn ngọn đồi thấp nhô sát biển cùng những làng chài xưa cách Phan Thiết 7km.

Năm 1911 một ông hoàng người Pháp là công tước De Montpensier từ Pháp sang du lịch săn bắn ở những ngọn đồi lân cận thấy phong cảnh sơn thuỷ đẹp ở đây đã khiến ông nảy ra ý định mua đất và xây dựng biệt thự cũng để có nơi nghỉ ngơi cho các kỳ du lịch và săn bắn sau này. Nguyện vọng của ông đã được các nhà cầm quyền Pháp ở Bình Thuận (công sứ garnier) đồng ý bán quả đồi Bài Nài.

Ngày 21/2/1911 biệt thự được khởi công xây dựng và gần một năm sau đó được hoàn chỉnh, với diện tích 536 m2 chia thành 13 phòng. Khu biệt thự xây dựng cách nhóm đền tháp Chăm Pôshanư gần 100m về phía Nam. Trong quá trình vận chuyển vật liệu lên xây biệt thự, người Pháp đã làm hỏng tường thành phía trước cửa chính của Tháp. Đây là biệt thự đẹp đầy đủ tiện nghi ban đêm có máy phát điện, dưới biệt thự có nhiều hầm ngầm chứa nước mưa đủ cho những người trong biệt thự dùng trong 1 năm. Được coi là hiện đại nhất Bình Thuận lúc bấy giờ. Từ đó trở đi nhân dân Phan Thiết quen gọi khu vực này là đồi “lầu Ông Hoàng” để chỉ ngọn đồi có khu biệt thự to đẹp do công tước De Montpensier xây dựng.

Tháng 7/1917 công tước De Montpensier bán lại cho chủ khách sạn người Pháp Prasetts. Sau khi có lầu Ông Hoàng một người Pháp có tên là Bell đã xây dựng hotel Ngọc Cẩm ở quả đồi bên cạnh để phục vụ người Pháp. Vài chục năm sau thi sĩ Hàn Mạc Tử đã đến địa danh này và đã để lại nhiều kỷ niệm khiến địa danh lầu Ông Hoàng càng có ý nghĩa. Trong kháng chiến chống Pháp đã bị thiêu huỷ ngày nay chỉ còn lại nền móng, hầm ngầm chứa nước và những ký ức trong người dân Phan Thiết.

Cũng tại lầu Ông Hoàng, quân Pháp đã xây dựng một hệ thống đồn bốt với nhiều lô cốt bêtông cốt thép chắc chắn để khống chế khu vực thị xã Phan Thiết. 14/6/1947 nơi đây đã diễn ra một trận đánh tuyệt vời của tiểu đội Hoàng Hoa Thám do đồng chí Nguyễn Minh Châu chỉ huy diệt nhiều địch, thu nhiều súng đạn các loại, trong đó có một khẩu đại liên vitke, một súng trung liên Bren và nhiều chiến lợi phẩm khác từ đó nhân dân quen gọi là chiến thắng lầu Ông Hoàng. Hiện nay lầu Ông Hoàng là một quần thể du lịch hấp dẫn bao gồm. Nhóm tháp chàm cổ bên cạnh tháp có chùa Bửu Sơn cổ kính, dưới chân đồi là bờ biển, cửa sông Phú Hài, núi Cố có một nhà thơ Nguyễn Thông… tất cả hợp thành một quần thể di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh ở Phan Thiết.

========================================

Tháp chàm Pôshanư

Cách trung tâm tp.Phan Thiết khoảng 5km về hướng Đông Bắc trên đường xuống khu du lịch Mũi Né bạn có thể dễ dàng nhìn thấy cụm Tháp đứng sừng sững trầm mặc trên đỉnh đồi, cạnh lầu Ông Hoàng. Đó là Tháp Pôshanư.

Đây là cụm tháp qua bao biến đổi của thời gian và thăng trầm của lịch sử vẫn còn tồn tại khá nguyên vẹn vẻ nguyên sơ của nó so với một số cụm tháp khác ở Bình Thuận, như nhóm Tháp Pôdam (Phú Lạc – Tuy Phong); nhóm tháp Bà Châu Rế (Hàm Phú – Hàm Thuận Bắc) …Hiện nay, đang có nhiều ý kiến khác nhau về thời gian xây dựng tháp, có ý kiến cho rằng tháp được xây dựng giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX, có ý kiến thì cho rằng vào khoảng thế kỷ XV, ý kiến khác lại cho rằng vào khoảng thế kỷ XVI đến XVIII.

Đây là tuyệt tác của dân tộc Chăm để lại cho nhân loại. Nhóm tháp này gồm 3 tháp và nhiều tháp bị đổ khác nay chỉ còn lại phế tích và nền móng. Ba ngôi tháp hiện còn phân bổ trên 2 tầng đất, quay mặt về hướng đông. Cả ba ngôi tháp đều là tháp vuông nhiều tầng, có niên đại thế kỷ 8, ở phong cách Mỹ Sơn E1 (phong cách kiến trúc Chăm cổ). Có một số yếu tố kiến trúc như cột trụ tròn ở các cửa giả, mi cửa…tương tự như ở các đền tháp Khmer. Nhóm tháp Chàm Pô-Sha-Nư toạ lạc trên một ngọn đồi có tên “Lầu Ông Hoàng”, cách thành phố Phan Thiết 6km về phía đông bắc.

Hàng năm vào tháng giêng âm lịch, các lễ hội Rija Nưga, Poh Mbăng Yang được tổ chức dưới chân tháp. Nhân dân làm lễ cầu mưa, cầu xin những điều tốt lành. Bên cạnh khu tháp Pô-Sha-Nư là các di tích “Lầu Ông Hoàng”, chùa Bửu Sơn, núi Cố nơi có mộ nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông. Tiếp tục cuộc hành trình dọc bãi biển đến đá Ông Địa, biển Mũi Né… du khách sẽ bị lôi cuốn vào bức tranh giàu hương vị biển mặn mà, độc đáo.

Nhưng dù được xây dựng vào thời gian nào thì tháp cũng là bằng chứng về sự tài hoa trí tuệ và bàn tay khéo léo của ông cha thuở trước trong nghệ thuật kiến trúc. Cũng như nhiều cụm tháp khác rải rác trên dải đất miền Trung, tháp Pôshanư được xây dựng từ gạch đỏ với một loại chất được kết dính đặc biệt mà nhiều giả thiết hiện nay cho rằng đó là nhựa thực vật. Tháp hình vuông, ba tầng, càng lên phía trên càng nhỏ lại, gồm mặt chính và ba mặt phụ, cửa tháp hình vòm cuốn với nhiều kiểu hoa văn tinh tế và phong phú thuộc phong cách nghệ thuật cùng với nhóm tháp Hoà Lai. Cụm tháp gồm 3 cái, 1 tháp lớn và 2 tháp nhỏ đều quay về hướng Đông, mà theo quan niệm của người Chăm là hướng của các thần linh. Phía trong, chính giữa tháp người ta đặt bệ thờ Linga – Yoni bằng đá trơn, biểu tượng của cơ quan sinh dục nam – nữ, vật linh thiêng nhất trong các đền thờ của những người theo đạo Hinđu.

Tháp thờ bà Pôshanư con gái của vua Po Parachanh trị vì vương quốc cổ Champa khoảng vào thế kỷ XIV. Pôshanư là một công chúa có công lớn trong việc tổ chức hướng dẫn nhân dân vùng Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc ngày nay sản xuất nông nghiệp, khai phá đất rừng làm rẫy, trồng lúa nước, trồng bông dệt vải, xây dựng các công trình thuỷ lợi. Bà cũng là người đã định ra nhiều quy tắc trong quan hệ giao tiếp, đối xử tiến bộ trong gia đình và xã hội của triều đình trong thời kỳ đó. Vì thế, ngày nay, đồng bào mỗi khi đến tháp đều cầu xin bà cho sản xuất được mùa, đời sống ấm no, gia đình yên ổn, hạnh phúc.

Trong truyền thuyết dân tộc Chăm, lịch sử ra đời của Tháp gắn liền với chuyện tình đầy hạnh phúc nhưng cũng rất thương đau của công chúa Pôshanư và lãnh chúa Po Sahaniempar.

Chuyện kể rằng: Vượt qua bao cấm đoán hà khắc của luật tục tôn giáo Chăm thời bấy giờ. Công chúa Pôshanư đã đem lòng yêu thương và quyết định kết tóc se duyên với lãnh chúa Po Sahaniempar một người theo đạo Hồi giáo ở vùng Ma Lâm. Trong những ngày sống hạnh phúc và đã cùng nhau xuống vùng Phú Hài (Phan Thiết) vận động nhân dân xây tháp trên đồi Bianneh (Mũi Né).

Thái tử Podam, em ruột của Pôshanư từ lâu đã không muốn chị mình lấy một người chồng ngoại đạo. Nhân một chuyến hành hương về Ấn Độ của Po Sahaniempar theo luật Hồi giáo, Podam đã bày mưu chia rẻ hai người. Chàng Po Sahaniempar sau thời gian hành hương trở về không thấy vợ ra đón theo lời hẹn ước, cho rằng bà đã phản bội nên từ bỏ ra đi về phía nam, mang theo trong lòng một mối hận. Khi Pôshanư tìm đến để nói lời thanh minh, thì ông đã trao gởi trái tim tình yêu cho nàng Chargo người dân tộc Raglây ở vùng Núi Ông – Tánh Linh.

Những năm tháng cuối đời bà Pôshanư đã sống một mình thanh thản tại Bianneh.

Người Chăm đời sau tạc tượng Bà và thờ Bà trong tháp. Ngày xưa, hàng năm cứ đến mùa Katê, đồng bào lại tụ về bên tháp thắp hương tưởng niệm và vui chơi, múa hát bên Bà, đón mừng năm mới.

Sau năm 1975 đến nay, tháp bà Pôshanư được nhiều lần trùng tu bảo tồn với sự đóng góp công sức và trí tuệ của các chuyên gia trong và ngoài nước và đã được Nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hoá.

Hiện nay hàng ngày tháp vẫn mở cửa đón du khách thập phương đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá mà những nghệ nhân và những người thợ xây dựng Chămpa đã mang theo vào cõi vĩnh hằng. Họ cũng đến để tưởng nhớ đến bậc tiền bối đã có công vận động xây dựng tháp, đóng góp vào kho tàng văn hoá Việt Nam một tác phẩm kiến trúc như một bông hoa đẹp: Bà Pôshanư.

Thành phố Phan Thiết đang biến đổi từng ngày, những toà nhà cao tầng, những công trình kiến trúc hiện đại đã đang và sẽ mọc lên. Những cũng như bao công trình kiến trúc lịch sử khác, tháp bà Pôshanư sẽ vẫn mãi mãi tồn tại, được nâng niu, tôn trọng như tình đoàn kết của các dân tộc anh em qua bao thế hệ đã đóng góp công sức góp phần làm nên một thành phố đầy hương sắc văn hoá của hôm nay và của cả mai sau.

========================================

Núi Tà Cú

Núi Tà Cú là tên gọi của người Chăm. Núi thuộc huyện Hàm Tân có độ cao khoảng 480 m so với mặt nước biển. Trên lưng núi có chùa Linh Sơn Trường Thọ. Chùa có từ thời vua Tự Đức. Tên chùa do nhà vua ban tặng khi vị thiền sư tại chùa chữa khỏi bệnh cho Từ Dũ- mẹ vua. Chùa có tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn dài 49 m, được dựng năm 1962.

KIẾN TRÚC:

 Mặt chùa nhìn thẳng ra cửa Bể Hàm Tân, hai bên với hai dòng suối uốn quanh suốt năm, nước lúc nào cũng đầy ắp. Khi leo được đến chùa, được dội một gáo nước suối mát lạnh, bạn sẽ cảm thấy rất sảng khoái. Sau lưng chùa là một rừng cây cổ thụ chen với những tảng đá to. Ngôi chùa tuy xây đã lâu đến nay chẳng những không bị rêu phong đổ nát mà còn được trùng tu và kiến tạo thêm nhiều vẻ đẹp tân kỳ vĩ đại như: cảnh Song Lâm Thị Tịch; cảnh Tịnh Độ Nhân Gian với những pho tượng khổng lồ xưa nay nước ta chưa từng có. Cứ mỗi độ xuân về hay vào ngày kỵ tổ khai sơn (5/10 ÂL) là hàng trăm tăng ni, hàng ngàn phật tử khắp nơi về chiêm lễ.

 Trụ trì Thiện Thắng là người có công nhất trong việc trùng tu Tổ Đình lần thứ nhất. Ông dùng đá chẻ xây tường Chánh Điện, nhà Đông, nhà Tây, lợp toàn ngói, khai thông con đường từ chùa xuống giáp cây số 28 quốc lộ 1 (Phan Thiết – Sài Gòn), sắm thêm Pháp khí trong chùa cho thêm phần trang nghiêm.

 Cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Nam đã làm cho chùa bị tàn phá. Khi hiệp định Genève được ký kết. Trụ trì Vĩnh Thọ triệu tập tín đồ với mục đích trùng hưng chùa:

• Sưu tầm văn khế của chùa bị thất lạc từ lâu.
• Gạch bản đồ điền thổ của chùa.
• Xây lại ngôi Tháp Tổ.
• Xây dựng và tu bổ ngôi Tổ Đình.

 Năm 1958, ông phát nguyện kiến tạo một cảnh Tịnh Độ Nhân Gian để làm chỗ quy hướng cho chúng sinh.
Về chánh đạo: gồm một pho tượng Đức Di Đà cao 7 mét, Quan Âm và Thế Chí cao 6m50 (luôn cả tòa sen).
Về y báo :sẽ tiếp tục làm như trong kinh Di Đà:

 Bảy lớp lang cang
 Bảy lớp lưới báu
 Bảy hàng cây báu
 Có ao thất bảo và bảy loài chim nói pháp…

 Năm 1962, ông phát nguyện tạo một pho tượng đức Thích Ca Niết Bàn dài 49m và cảnh Sông Lâm Thị Tịch có chu vi 832m sẽ tượng trưng đủ hình tứ thánh lục phàm và bảy chúng Phật tử.
 Các vị trụ trì của chùa từ trước tới nay:

 Tâm Tố – hiệu Viên Minh.
 Nguyên Tiền – hiệu Minh Tước.
 Đỗ Quảng Thành – hiệu Thiện Thắng.
 Đào Bạch Cẩn – hiệu Vĩnh Thọ.

 Núi Tà Cú – chùa Linh Sơn Trường Thọ ngày nay trở thành một chốn đạo tràng trang nghiêm hướng dẫn bởi một lòng thương chân thật bao la, không phân biệt màu sắc, tôn giáo, không nhận đây là của riêng mình mà là của chúng sinh ở thời Mạt pháp.

NGƯỜI SÁNG LẬP CHÙA

Nguyên quán của ông tại thôn Cần Lương, xã An Dân, quạn Tuy An, tỉnh Phú Yên. Sinh ra trong gia đình quí tộc, cha là Trần Thái Công, mẹ là Nguyễn Thị Từ, sinh giờ Tý, ngày 8 –2 năm Nhâm Thìn.

Thời thơ ấu, ông không ăn đồ cá thịt, ông chỉ ăn chay, luôn mạnh khỏe không đau ốm. Lên 10 tuổi ông theo thầy học tập, do được chỉ dạy tận tường công với sự thông minh sẵn có, ông đã sớm tinh tường thi lễ. Năm 17 tuổi, cha mẹ ông lần lượt qua đời, ông đau sau đó thì xuất gia. Ông rời quê đi tìm thầy học đạo. Suốt 3 ngày liền trên thuyền nan, đến ngày thứ tư thuyền cập vào bến Phan Thành (Phan Thành ngày nay), ông đến chùa Phước Hưng, cầu Trí Chất Đại Sư – trụ trì thụ giáo. Ông có pháp danh là Thông Ân. Sau khi thầy mất, ông rời chùa đến xứ Bàu Trâm dựng ngôi Thảo Am, ngày đêm kiêm tu thiền định. Qua 3 năm tụ tập, tại đây Ngài đã cứu dân làng thoát khỏi nhiều bệnh tật nên dân vô vùng mến phục. Họ dựng lên một ngôi chùa hiệu là Kim Quang Tự. ông ở lại đây 30 năm hành đạo. Sau đó được hòa thượng Bửu Tạng truyền trao Đại giới (250 giới) và phú pháp cho Ngài hiệu Hữu Đức. Không bao lâu Ngài đến xứ Bàu Siêu rồi lên tận đỉnh núi Tà Cú.

Nguồn: Sưu tầm

Leave a Reply

Comment moderation is enabled. Your comment may take some time to appear.