Giáo trình tuyến điểm du lịch Việt Nam (phần 2)

B – TIỂU VÙNG DU LỊCH ĐÔNG NAM BỘ

B1 – TUYẾN DU LỊCH TPHCM – TÂY NINH


I – TUYẾN ĐƯỜNG ĐI TỪ TPHCM – TÂY NINH : (99km – QL22)

1. TP Hồ Chí Minh :

- Quận Tân bình
- Quận 12
- Huyện Hóc môn
- Huyện Củ chi

2. Tỉnh Tây Ninh :

- Huyện Trảng bàng
- Huyện Gò dầu
- Huyện Châu thành
- Thị xã Tây ninh

II – NHỮNG ĐIỂM THAM QUAN Ở TÂY NINH :

1. Vị trí địa lý:

Diện tích 4.030km2, dân số 758.100 người. Tỉnh Tây ninh có tỉnh lỵ là thị xã Tây ninh và 7 huyện. Hơn ½ ranh giới của tỉnh từ phía Bắc – phía Tây và một phần phía Nam giáp với Campuchia, một phần phía Nam giáp TPHCM, Long an, phía Đông giáp Bình dương. Địa hình đa dạng bao gồm:  diện tích toàn tỉnh. Tây ninh%rừng, núi và đồng bằng. Rừng chiếm 36,6  là một trong những tỉnh có diện tích cây cao su rộng lớn. Trọng điểm trồng lúa ở ven sông Vàm cỏ, huyện Trảng bàng, Bến cầu, Châu thành. Tình Tây ninh chuyên canh 4 loại cây: mía, đậu phộng, khoai mì, thuốc lá. Công nghiệp có các cơ sở chế biến cao su, chế biến gỗ

2. Nhũng điểm tham quan ở Tây ninh:

a. NÚI BÀ ĐEN : cách trung tâm thị xã Tây ninh 11km về hướng Đông bắc, tiếp giáp với 3 huyện: Hòa thành, Dương Minh Châu, Bến cầu. Đây là ngọn núi cao nhất ở Nam bộ (cao 986m). Núi Bà Đen cón có tên là núi Điện bà, núi Một, Vân sơn

Truyền thuyết kể rằng ngày xưa có cô gái tên Lý Thị Thiên Hương quê ở Trảng bàng, nhan sắc lộng lẫy nhưng do tình duyên với Lê Sĩ Triệt bị trắc trở, cô bỏ lên núi và bị bọn cường hào giết chết, xác trở nên khô đen. Và tử đó có tên núi Bà Đen

Núi Bà Đen gồm chùa Hạ (Linh sơn tiên thạch tự), chùa Trung (Linh sơn thánh mẫu) Điện bà, chùa Thượng (chùa Hang, Long Châu Tự). Núi Bà Đen cũng là căn cứ của quân giải phóng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Quân đội Mỹ cũng xây dựng trên đỉnh núi một trung tâm thông tin với diện tích 40.000m2

b. THÁNH THẤT CAO ĐÀI :

Đạo Cao đài xuất hiện ở miền Nam V.N từ 1919 và được chính quyền Pháp cho hoạt động từ 1926

Người khởi xướng cho nền móng đạo Cao đài là ông Ngô Văn Chiêu
Ông Lê Văn Trung được tôn làm Giáo chủ tạm thời của đạo Cao đài năm 1926
Người đứng đầu đạo Cao đài từ năm 1933 và chỉ huy xây dựng tòa thánh là Hộ pháp Phạm Công Tắc

Tòa thánh Cao đài Tây ninh có diện tích 1km2. Tòa thánh dài 140m, rộng 40m được xây dựng từ năm 1933 đến năm 1947 thì hoàn tất nhưng mãi đến năm 1955 mới khánh thành

Lên 5 bậc thềm của Tòa thánh là tượng trưng cho việc trải qua 5 đạo của trần thế, trên vách điện có bức tranh Tam thánh. Phía sau bức tranh Tam thánh là Hiệp thiên đài. Nền tòa thánh được tạo thành 9 bậc thang gọi là Cửu trùng đài: bậc thứ 4 là Nghinh phong đài, bậc cuối cùng là Cửu trùng, Cung đạo, ghế bát giác, quả càn khôn.

Trong khuôn viên Tòa thánh Cao đài còn có các cơ quan làm việc của đạo Cao đài: Giáo tông đường, Hạnh đường, Hiệp thiên đài, Điện thờ Phật mẫu, Phước thiện đường, Nhà hội Vạn linh

Ngày lễ chính của đạo Cao đài được tổ chứ vào 15.8 âm lịch hàng năm

c. CĂN CỨ TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM : huyện Tân biên, cách thị xã Tây ninh 55km, rộng 70.000m2 trong đó có 17km đường biên giới VN – Campuchia. Tiền thân của T.W cục là Xứ ủy Nam kỳ

Ngày 23.1.1961 lễ thành lập căn cứ T.W cục được thành lập tại suối Nhung – Mã đà thuộc chiến khu D

Đến đầu năm 1962 căn cứ chuyển về Rùm Duôn – Chàng Riệc – huyện Tân biên cho đến ngày 30.4.1975

Hiện nay đã khôi phục 1.263m giao thông hào, 1.371m đường nội bộ, 13 hầm chữ A, hội trường, phòng họp, nhà bếp …

8 ngôi nhà của các đồng chí lãnh đạo

1. Nhà đồng chí Ngyễn Văn Linh bên ngoài có cây sứ do đồng chí trồng năm 1972
2. Nhà đồng chí nguyễn Chí Thanh
3. Nhà đồng chí Phạm Hùng
4. Nhà đồng chí Phạm Thái Bường – ủy viên T.W cục – Trưởng ban an ninh miền Nam
5. Nhà đồng chí Phạm Văn Đáng – Phó bí thư thường trực – Trưởng ban tuyên huấn
6. Nhà đồng chí Phạm Văn Xô – Trưởng ban kinh tài
7. Nhà đồng chí Trần Văn Trung
8. Nhà đồng chí Sáu Rô – cận vệ

d. LÒNG HỒ DẦU TIẾNG :

Năm 1980 UBND tỉnh Tây ninh kết hợp với Bộ thủy lợi tiến hành khảo sát ngăn sông Sài gòn và đắp đập Dầu tiếng. Lòng hồ Dầu tiếng khởi công xây dựng ngày 29.4.1981 và hoàn thành ngày 10.1.1985. Hồ có diện tích 27.000hecta, sức chứa 1,6 tỉ m3 nước với kinh phí 1.000 tỉ đồng

- Đập chính dài 1.100m, đập phụ dài 29km

- Một đập tràn xả lũ ra sông Sài gòn, hai cống đưa nước ra kênh Đông và kênh Tây, kênh Đông tưới tiêu cho khu vực phía Đông sông Vàm cỏ, diện tích 40.000 hecta, huyện Dương Minh Châu, Gò dầu, Trảng bàng, Củ chi (TPHCM), kênh Tây tưới tiêu huyện Tân biên, Châu thành, Hòa thành

B2 – TUYẾN DU LỊCH TPHCM – ĐỒNG NAI (30km) -
BÌNH DƯƠNG (30km) -BÌNH PHƯỚC (114km)

I- TUYẾN ĐƯỜNG ĐI TỪ TPHCM – TP BIÊN HÒA – TX THỦ DẦU MỘT – TX ĐỒNG XOÀI :

1. TP Hồ Chí Minh :

a. Quận Bình thạnh :
- Ngả 4 Hàng xanh – cầu Sài gòn

b. Quận 2:
- Cầu Sài gòn – cầu Rạch chiếc

c. Quận Thủ đức :

- Cầu rạch chiếc – ngả 4 Thủ đức

d. Quận 9:
- Ngả 4 Thủ đức – cầu Đồng nai

2. Tỉnh Đồng nai :

a. TP Biên hòa:
- Cầu Đồng nai – ngả 4 Tam hiệp, rẻ trái 2km

3. Tỉnh Bình dương:

- Tỉnh lộ 18 đi Bình dương
- Thị xã Thủ dầu một (QL13)

4. Tỉnh Bình phước:
a. Huyện Bình long (QL 13)

II – NHỮNG ĐIỂM THAM QUAN Ở ĐỒNG NAI :

1. Vị trí địa lý :

Diện tích 7.578 km2, dân số 1.501.700 người. Tỉnh lỵ là TP Biên hòa và  và các dân tộc Mạ, Khơ-mú, Tày, Nùng,%6 huyện. Người kinh chiếm 82,8 Thái, Dao… Ưu thế nông nghiệp của tỉnh Đồng nai là cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, cây ăn quả: mía, đậu phộng, đậu tương, thuốc lá. Diện tích và sản lượng đậu tương chiếm đến 1/3 cả nước. Diện tích cây cao su đứng hàng thứ hai của cả nước sau Bình phước. Về công nghiệp có khu công nghiệp Biên hòa bao gồm 100 xí nghiệp lớn nhỏ. Tiểu thủ công nổi tiếng với nghề làm gốm, tạc tượng.

2. Những điểm tham quan:

a. RỪNG QUỐC GIA NAM CÁT TIÊN: là khu rừng già nguyên sinh có diện tích 35.000 hecta nằm ở phía Bắc tỉnh Đồng nai, trên thượng nguồn sông Đồng nai. Rừng Cát tiên được qui hoạch thành khu rừng quốc gia để bảo vệ những loại động vật quí hiếm như tê giác

b. NGÔI MỘ CỔ DOLGEN – HÀNG GÒN: Mộ cổ Hàng Gòn được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1927,khi mở đường liên tỉnh lộ số 2, một kiến trúc sư người Pháp tên là J.Bouchot đã phát hiện một tảng đá nhô cao từ dưới gốc cây cổ thụ và ông đã tiến hành khai quật vào tháng 4-1927 với mục đích tìm vàng và báu vật vì thế đã làm sai lệch vị trí gốc cấu thành di tích. Ông đã công bố kết quả nhiều lần vào những năm 1927, 1929. Sau các kết quả công bố của J.Bouchot, mộ cự thạch Hàng Gòn đã thu hút được sự chú ý và quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới, trong đó có H.parmentier – chủ sự sở khảo cổ và các học giả Pháp như E.Grapardone; L. Malleret; SaurinEd; H. Pontain… Các nhà nghiên cứu từ Liên Xô (cũ), Đức, Bungari, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc và giới khảo học Việt Nam sau năm 1975 đã tổ chức nhiều đợt điều tra kiểm chứng mộ cự Thạch Hàng Gòn. Trong đó đáng chú ý nhất là các đợt điều tra khảo sát phối hợp của Ban khảo cổ học – Viện khoa học TP.Hồ Chí Minh với Phòng bảo tồn bảo tàng năm 1982; với Nhà bảo tàng năm 1991; 1996. Đặc biệt là sự phối hợp điều tra đào thám sát của trung tâm khảo cổ học vùng Nam bộ với ban quản lý di tích, danh thắng tỉnh Đồng Nai để phục vụ cho việc lập hồ sơ thiết kế trùng tu, khôi phục, tôn tạo di tích mộ cự thạch Hàng Gòn vào tháng 6-2006.

Mổ Cổ Hàng Gòn là một khu di tích có giá trị lịch sử cao, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu sử học. Từ huyện Long Khánh đi dọc Quốc lộ 1 chừng vài km tới ngã ba Tân Phong , xã Xuân Tân (Long Khánh), tiếp tục đi theo Quốc lộ 56 về hướng Bà Rịa vũng Tàu, chỉ khoảng 3 km, du khách sẽ đến  Mộ cổ Hàng Gòn.

Năm 1910, người Pháp lập đồn điền cao su, phá rừng và phát hiện ra Mộ cổ Hàng Gòn. Mộ cổ Hàng Gòn có kích thước to lớn khác thường nên còn gọi là mộ cự thạch (cự: to lớn; thạch: đá). Kích thước ngôi mộ dài 4,20m; ngang 2,70m; cao 1,60m; ghép bằng sáu phiến đá hoa cương lớn, nặng không dưới 50 tấn. Các phiến đá ghép với nhau theo hệ thống rãnh đục làm nắp và phiến đá làm đáy. Hai bên ngôi mộ có hai trụ đá hoa cương cao 7,5m với tiết diện 0,4m x 1,10m và mười trụ đá cát có tiết diện hình chóp cao từ 3m đến 4,10m. Theo các nhà khảo cổ, ngôi mộ có cách đây khoảng 2.000 năm và loại đá làm mộ chỉ có ở Đà Lạt hoặc Phan Rang. Những phiến đá nặng hàng tấn đã được vận chuyển bằng cách nào qua quảng đường hai đến ba trăm km trong điều kiện chưa có đường xá, xe cộ và phương tiện gì ? Người dưới ngôi mộ cổ là tổ tiên trực tiếp của người Mạ, người Chơro, hoặc người Xtiêng ở miền Đông Nam Bộ.

Hiện nay Mộ cổ Hàng Gòn vẫn chứa nhiều bí mật mà các nhà khảo cổ còn chưa trả lời đầy đủ. Chính sự bí ẩn kì lạ của những ngôi mộ này là điều hấp dẫn đặc biệt của khu di tích này với rất nhiều du khách.

c. ĐỀN THỜ NGUYỄN HỮU CẢNH: cù lao Phố (1650 – 1700)

Năm 1699 ông đang trấn giữ biên thùy ở phía Nam. Sau khi hoàn thành sứ mệnh (tháng 4.1770) trên đường rút quân về Bình khương, trên sông Rạch Gầm thì ông bị bệnh qua đời nhằm ngày 9 tháng 5 âm lịch, thọ 51 tuổi. Trên đường chuyển quan tài về nhà, linh cửu ông được quàng trên gò đất cao ở phía Nam cù lao Phố để nhân dân đến chiêm bái. Đền thờ được dựng ở nơi dừng chân quan tài khi xưa (thôn Bình hoành – cù lao Phố). Chúa Nguyễn truy tặng ông tước hiệu “Hiệp tán công thần Đặc tấn Chưởng dinh tráng hoàn cầu” rước vào Hữu tùng tự nơi thờ các bậc khai quốc công thần triều Nguyễn. Đời vua Minh Mạng ông được phong “ Khai quốc công thần Tráng võ tướng quân Vĩnh an hầu”. Năm 1852 vua Tự Đức phong tặng “ Thượng đẳng thần “.

d. MỘ TRỊNH HOÀI ĐỨC : (1765-1825)

Trịnh Hoài Đức con ông Trịnh Khánh, ngưới Hoa lấy một thiếu nữ ở Biên hòa, ông nội là Trịnh Hội tham gia phong trào “phản Thanh phục Minh”. Trong 40 năm làm quan, Trịnh Hoài Đức được xem là vị khai quốc công thần. Đến cuối đời ông để lại nhiều tác phẩm có giá trị,trong đó nổi tiếng là quyển “Gia định thành thông chí”. Mộ Trịnh Hoài Đức nằm ở trung tâm thành phố Biên hoà trong một khu đất rộng 40m2, chung quanh được bao bọc bởi những ngôi nhà dân.

Trackbacks

Gởi đánh giá của bạn

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Comment moderation is enabled. Your comment may take some time to appear.