Lịch sử Việt Nam – Chặng đường từ An Dương Vương đến Trưng Vương (179 TCN -43)

Sau khi chiếm được nước Âu Lạc, Triệu Đà sáp nhập đất Âu Lạc vào Nam Việt và chia âu Lạc ra làm 2 quận là Giao Chỉ (Bắc Bộ) và Cửu Chân (bắc Trung Bộ), cử quan lại và quân lính sang cai trị và đóng đồn. Cách cai trị của họ Triệu tương đối lỏng lẻo. Triệu Đà chưa xoá bỏ vương hiệu của thủ lĩnh đất Tây Vu là đất bản bộ của họ Thục và vẫn cho các Lạc tướng được trị dân như cũ. Những luật lệ, phong tục tập quán cũ của âu Lạc dưới thời Triệu tạm thời được duy trì. Cơ cấu xã hội Âu Lạc cũ hầu như chưa bi đụng chạm đến. Trong hơn 60 năm thống trị của nhà Triệu, trên đất Giao Chỉ, Cửu Chân không có những biến động quân sự, chính trị lớn.

vn1 300x231
Ở Trung Quốc, năm 202 TCN, Lưu Bang thay thế nhà Tần lập ra nhà Hán. Nhà Hán đã kế tục và phát triển trên một trình độ cao đường lối bành trướng nước lớn “bình Thiên hạ” trước đây.
Năm 111 TCN, nhà Hán điều hơn 10 vạn quân xuống chinh phục Nam Việt Sau một thời gian chống cự, vua tôi nhà Triệu kẻ bị giết, kẻ bị bắt. Nhân thời cơ đó, thủ lĩnh đất Tây Vu ( Tây Vu Vương ) đã nổi dậy khởi nghĩa chống lại bọn sứ giả nhà Triệu, định khôi phục lại nền độc lập của nước Âu Lạc xưa. Đây là cuộc nổi dậy chống Bắc thuộc đầu tiên của nhân dân ta mà sử cũ còn ghi lại được. Cuộc khởi nghĩa bị thất bại. Bọn quan lại nhà Triệu đã quỳ gối đầu hàng Lộ Bác Đức. Đất Âu Lạc lại chuyển sang tay nhà Hán.
Nhà Hán chia vùng đất mới chiếm ra làm 9 quận là Đạm Nhĩ, Chu Nhai (thuộc đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm, Thương Ngô (đều thuộc Quảng Đông, Quảng Tây Trung Quốc ngày nay), Giao Chỉ (Bắc Bộ Việt Nam), Cửu Chân (vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh ), Nhật Nam (vùng từ Quảng Bình đến Quảng Nam). Năm 106 TCN, nhà Hán đặt châu Giao Chỉ thống suất 7 quận ở lục địa và đặt trị sở ở quận Giao Chỉ là quận lớn nhất và quan trọng nhất. Đứng đầu châu Giao Chỉ là chức thứ sử, đóng trị sở tại Mê Linh (nay là làng Hạ Lôi, huyện Mê Linh, Vĩnh Phúc). Mỗi quận có một viên thái thú và một viên đô uý (cai quản việc dân sự và quân sự). Bên dưới quận là huyện. Nhìn chung Ở huyện, các Lạc tướng vẫn được cai trị dân chúng theo truyền thống cũ. Phương thức bóc lột cơ bản lúc này vẫn là phương thức cống nạp. Tuy nhà Hán ‘ đã áp đặt được một bộ máy đô hộ ở các cấp châu, quận, song chính giới thống trị Hán tộc cũng. phải thú nhận là chúng chỉ có thể “dùng tục cũ mà cai trị”, không nắm được các huyện vì ở huyện vẫn theo chế độ lạc tướng cha truyền con nối của người Việt.
Thời kỳ từ thế kỷ thứ II TCN cho đến đầu Công nguyên vẫn là thời kỳ tồn tại của cơ cấu văn minh Đông Sơn với mô hình kinh tế- văn hóa nông nghiệp lúa nước cổ truyền ở Sơ kỳ thời đại đồ sắt Việt Nam. Nền văn minh Việt cổ vẫn thể hiện đầy đủ sức sống mãnh liệt của nó trong mấy trăm năm đầu của thời kỳ Bắc thuộc. Tuy vậy, người Việt nói chung không bài ngoại một cách mù quáng mà vẫn háp thụ có chọn lọc những yếu tố văn hóa ngoại sinh để làm phong phú thêm bản sắc riêng cho chính mình. Thời kỳ này đã bắt đầu có sự truyền bá vừa ôn hòa vừa cưỡng bức lối sống văn minh- văn hóa Hán vào đất Việt. Truyền bá ôn hòa qua giao lưu kinh tế-văn hoá, qua di dân Trung Quốc sang, còn truyền bá cưỡng bức, qua bọn đô hộ với các biện pháp hành chính- quân sự. Như thế, trên cơ tầng văn hóa Việt đã vận hành một cơ chế Hán, trong đó lối sống và văn hóa Việt tiếp xúc lâu dài và trực tiếp với văn hóa Hán, đã diễn tiến dưới ảnh hưởng của văn hóa Hán, và đang dần dần biến đổi từ mô hình Đông Sơn cổ truyền sang một mô thức mới: Việt- Hán.
Đến đầu Công nguyên, triều đình phương Bắc có biến luận. Vương Mãng cướp ngôi nhà Tây Hán, lập ra triều Tân (8- 23). Sau đó, Đông Hán thay thế triều Tân (23- 220), trong đó giai đoạn từ năm 25 đến năm 88 là thời kỳ Trung Quốc ổn định ở bên trong và có điều kiện mở rộng bành trướng ra bên ngoài.
Trước tình hình đó, một số khá đông quý tộc, địa chủ, sĩ đại phu Trung Quốc đem theo cả gia đình và tộc thuộc di cư xuống Giao Châu, dựa vào chính quyền đô hộ mà sinh cơ lập nghiệp, xâm lấn ruộng đất và tài sản của người Việt. Lúc này, đại diện cho chính quyền Đông Hán ở Giao Chỉ là Tích Quang và Ở Cửu Chân là Nhâm Diên. Cả Tích Quang và Nhâm Diên trước sau đều dùng lối sống Hoa cải biến phong hóa Việt.Họ mở trường dạy lễ nghĩa và buộc người Việt phải tuân theo lễ nghĩa”Trung Quốc. Từ những việc như lấy vợ gả chổng cho đến việc ăn mặc, thậm chí cả việc tổ chức khai thác nông nghiệp cũng đều phải theo truyền thống, tập quán và kỹ thuật Hán….Mức độ bóc lột và đồng hóa của chúng ngày càng trở nênkhốc liệt.Ngoài việc bắt nhân dân ta phải cống nạp nhiều của quý, vật lạ của phương Nam, nhà Hán còn bóc lột tô thuế nặng nề, chiếm đất lập trang trại, nắm độc quyền sản xuất và mua bán muối. Nhà Hán ra sức củng cố và hoàn thiện chính quyền đô hộ ở Giao Chỉ, tìm mọi cách xoá bỏ lối “dùng tục cũ mà cai trị”, áp dụng pháp luật Hán, bắt nhân dân ta phải tuân theo lễ giáo phong kiến Hán. Việc chúng mở ra một vài trường học cũng chỉ là để đào tạo một số thuốc viên đắc lực cho chính quyền đô hộ và tuyên truyền những tư tưởng đạo đức phong kiến Hán.
Năm 34, Tô Định thay Tích Quang làm Thái thú Giao Chỉ lại càng tỏ ra gian tham hơn. Đông Quan Hán ký mô tả y “thấy tiền thì giương mắt lên”.Y ra sức vơ vét thuế khoá, khống chế, đè nén các lạc tướng và con cháu họ, khiến cho cả quý tộc cũ và nhân dân đều oán hận chính quyền đô hộ. Trong tình hình đó cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta đã đạt tới mức cao hơn, mang một nội dung mới và có những hình thức khác. Đó là phong trào nổi dậy của nhân dân toàn đất nước mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40 – 43).
Hai Bà Trưng (Trưng Trắc, Trung Nhị) là con gái của lạc tướng huyện Mê Linh. Đất Mê Linh là đất bản bộ cũ của các vua Hùng, kéo dài trên hai bờ sông Hồng, trải rộng từ vùng núi Ba Vì (Hà Tây) sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc. Nhà Hán ban đầu đặt cả châu trị, quận trị và đô uý trị Giao Chỉ ở đất Mê Linh, vừa cai quản toàn vùng Nam Việt và Âu Lạc cũ, vừa trực tiếp khống chế “đất Tổ ” của người Việt. Sang thời Đông Hán quận trị mới dời xuống Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh).
Theo truyền thuyết dân gian, thần tích miếu Mèn và đình Nam Nguyễn (Ba Vì, Hà Tây) thì mẹ Hai Bà Trưng là cháu ngoại vua Hùng, người làng Nam Nguyễn. Bà hoá chồng sớm nên phải một mình nuôi dạy hai con gái.Truyền thuyết còn kể rằng quê cha của
Hai Bà Trưng là làng Hạ Lôi (Mê Linh, Vĩnh Phúc) và gia đình bố mẹ của Hai Bà Trưng chuyên nghề dâu tằm, cho nên mới đặt tên con theo tên các loại kén (kén dầy là trứng chắc,tức Trưng Trắc, còn kén mỏng là trứng nhì tức Trưng Nhị). Quê của Hai Bà Trưng có thể ở khu vực bên bờ sông Hồng, đoạn từ Hạ Lôi lên đến khu vực chùa Mía.
Hai Bà Trưng là những người phụ nữ “rất hùng dũng”, có can đảm, dũng lược”. Chồng Trưng Trắc là Thi Sách, con trai lạc tướng huyện Chu Diễn (vùng Đan Phượng, Từ Liêm). Việc hai gia đình có thế lực lớn của hai vùng quan trọng nhất nước ta lúc đó thông gia với nhau khiến cho thanh thế của họ càng thêm mạnh.
Chính sách cai trị tàn bạo của nhà Đông Hán đã thôi thúc Thi Sách, Trưng Trắc hiệp mưu tính kế nổi dậy chống lại, nhưng chẳng may việc bị bại lộ. Tô Định đã giết chết Thi Sách trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra. Hành vi bạo ngược của Tô Định không những không dập tắt ý chí đấu tranh của Trưng Trắc, mà trái lại càng làm cho ngọn lửa căm thù bốc cao. Tháng 3 năm 40, Trưng Trắc đã cùng em là Trưng Nhị phát động cuộc khai nghĩa ở khu vực cửa sông Hát (làng Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Tây) với mục đích đền nợ nước, trả thù nhà. Thiên Nam ngữ lục, thiên sử ca đượm tính dân gian thế kỷ XVII chép về Là thề của Trưng Trắc trước quân sĩ, khẳng định lý do khởi nghĩa:

” Một xin rửa sạch nước thù,

Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng.

Ba kẻo oan ức lòng chồng,

Bon xin vẹn vẹn sở công lênh này”

Những người yêu nước khắp nơi rầm rập kéo về tụ nghĩa ở cửa sông Hát. Cửa sông Hát là chỗ gặp nhau của hai dòng sông lớn: Sông Hồng và sông Đáy thời kỳ đầu Công nguyên còn nằm ở phía trước cửa đền Hát Môn hiện nay. Đây là đầu mối của các luồng đường giao thông nối liền Mê Linh với Chu Diễn, nằm trong vùng quê của cả Trưng Trắc và Thi Sách. Nơi đây tuy ở vị trí trung tâm nhưng lại có đủ điều kiện để xây dựng một căn cứ khởi nghĩa. Thiên Nam ngữ lục mô tả: “Hát Môn có thể dụng binh. Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà”. Hai Bà Trưng đã chuẩn bị lực lượng, phát động khởi nghĩa và mở hội thề ở đây. Rồi từ cửa sông Hát, đại quân kéo xuống đánh chiếm Đô uý trị (Hạ Lôi, Mê Linh, Vĩnh Phúc), tiến công thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và từ đó mở cuộc tiến công có ý nghĩa quyết định giải phóng thành Luy Lâu, dinh Thái thú Tô Định (Thuận Thành, Bắc Ninh).
Khởi nghĩa Hát Môn lập tức được sự hưởng ứng của các lạc tướng, lạc dân, không chỉ ở Mê Linh, Chu Diên mà còn ở các địa phương khác. Hậu Hán thư cho biết: Những người Man, người Lý (tiếng chỉ chung các dân tộc phương Nam) ở 4 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nhất tề nổi dậy hưởng ứng. Phong trào đã nhanh chóng trở thành cuộc nổi dậy của toàn dân, vừa mang tính chất quy tụ, vừa mang tính chát tỏa.rộng. Đây rõ ràng là sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc Việt. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng phản ánh ý thức dân tộc đã khá rõ rệt của các lạc tướng, lạc dân trong các bộ lạc hợp thành nước Âu Lạc cũ.
Chính quyền đô hộ tan rã và sụp đổ nhanh chóng trước sức tấn công của quần chúng. Bọn quan lại Đông Hán hoảng sợ phải bỏ hết của cải, giấy tờ ấn tín tháo chạy về nước. Bản thân Thái thú Tô Định đã phải bỏ thành Luy Lâu, bỏ cả ấn tín, cắt tóc, cạo râu lẻn trốn về Nam Hải.
Chỉ trong một thời gian ngắn, ngọn cờ chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng đã tập hợp được 65 huyện thành (nghĩa là toàn bộ lãnh thổ nước ta hồi đó). Nền độc lập dân tộc lại được phục hồi sau hơn 200 năm chìm đắm dưới ách đô hộ của Trung Quốc. Trưng Trắc được suy tôn làm vua (sử cũ gọi là Trưng Vương), đóng đô ở Mê Linh (Hạ Lôi, Vĩnh Phúc). Đại Nam quốc sử diễn ca chép về sự kiện nay như sau:

“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh,

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”.

Lên ngôi, Trưng Vương đã xá thuế cho dân 2 quân Giao Chỉ và Cửu Chân trong 2 năm liền. Trưng Vương đã dựa vào dân khôi phục sự nghiệp xưa của vua Hùng, vua Thục sau hơn 200 năm mất nước, sau khi các triều đại phương Bắc ráo riết và thâm độc thi hành chính sách đồng hoá nhằm biến Âu Lạc vĩnh viễn trở thành quận, huyện của chúng, sau khi nhà Hán ra sức “bình Thiên hạ”, truyền bá tư tưởng “tôn quân đại thống nhất “, coi các dân tộc phương Nam là “Man Di”,”Tây Nam di”, là “thuộc quốc” và buộc tất cả phải phục tùng “Thiên tử”, “Thiên triều”. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng với những nội dung và mục tiêu trên, với sự thành công nhanh chóng và sự suy tôn trưng Trắc lên nắm quyền quản lý, điều hành đất nước là sự trỗi dậy của ý thức dân tộc, của ý thức tự chủ của nhân dân ta, phủ định hiên ngang cái cường quyền sai trái Đại Hán. Đây thực chất là một cuộc đồng khởi của toàn dân trên phạm vi cả nước, dưới sự lãnh đạo của người phụ nữ tuổi chưa tròn đôi mươi, cách ngày nay gần 2000 năm. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vì thế, là một hiện tượng độc đáo trong lịch sử dân tộc và hiếm có trong lịch sử thế giới. Đây là một cái’ mốc bản lề khẳng định những giá trị vĩnh viễn của thời kỳ Hùng Vương- An Dương Vương và định hướng cho tương lai phát triển của đất nước.
Nghe tin Trưng Trắc khởi nghĩa và xưng vương, vua Quang Vũ nhà Hán hạ chiếu sai các quận Trường Sa, Hợp Phố, Giao Chỉ (?) sắm sửa thuyền xe, sửa sang đường cầu, thông miền khe núi, trữ sẵn thóc gạo chuẩn bị xâm chiếm lại đất nước ta. Tháng 4 năm 42, nhà Hán phong Mã Viện làm “Phục Ba tướng quân” đem 2 vạn quân cùng 2000 thuyền xe chia làm hai cánh, theo hai đường thủy bộ sang xâm lược nước ta. Mã Viện lúc này đã 58 tuổi, là một viên lão tướng có tài quân sự, đã từng đàn áp nhiều cuộc khởi nghĩa của người Khương và phong trào đấu tranh của nông dân ở Hoãn Thành (An Huy, Trung Quốc).
Trưng Vương đã chủ động tổ chức lực lượng đánh địch ngay tại vùng địa đầu Tổ quốc ( khu vực cửa sông Bạch Đằng ), rồi sau đó lui về chặn địch ở Lãng Bạc. Lãng Bạc là vùng đất cao nổi lên giữa vùng đồng trũng ngập lụt. Kết hợp các nguồn tài liệu thư tịch và khảo sát thực địa, có thể dự đoán Lãng Bạc nằm trong khu vực huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
Trưng Vương đã kìm chân quân Hán tại Lãng Bạc khiến cho Mã Viện phải nao núng, chán chường. Nhưng vì tương quan lực lượng quá chênh lệch. Trưng Vương buộc phải bỏ Lãng Bạc, rút quân về cố thủ tại Cổ Loa. Không giữ được Cổ Loa, Hai Bà Trưng đành phải .đem quân về Hạ Lôi và từ Hạ Lôi lui về giữ Cấm Khê (khu vực kéo dài từ chân núi Ba Vì thuộc huyện Thạch Thất cho đến vùng chùa Hương, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây).
Hai Bà Trưng và các tướng sĩ mặc dù chiến đấu rất anh dũng, bảo vệ đến cùng căn cứ Cấm Khê, nhưng cuối cùng đã bị Mã Viện dồn sức đánh bại. Hai Bà Trưng đã hy sinh tại chiến trường. Đại quân của Hai Bà Trưng tan vỡ, người bị giết, người bị bắt đem về Trung Quốc: Lực lượng còn lại rút lui vào Cửu Chân và chiến đấu với quân xâm lược Mã Viện cho đến những người lính cuối cùng. Đất nước ta một lần nữa lại bị mất quyền độc lập.

Leave a Reply

Comment moderation is enabled. Your comment may take some time to appear.